Kinh Tương Ưng – Thiên 1 – Chương 1 – Phẩm 2 – Bài 9 & 10: Am Tranh (Kuṭikāsuttaṃ) & Samiddhi (Samiddhisuttaṃ)

http://vietheravada.blogspot.com/2014/05/thien-1-chuong-2-bai-9.html

Chú Giải Pali (9. Kuṭikāsuttavaṇṇanā – 10. Samiddhisuttavaṇṇanā )

Sư Toại Khanh giảng trong lớp Phật Pháp Vietheravada Thứ Bảy ngày 31 tháng 5 năm 2014

Bài 9: Am Tranh

A/ Giới Thiệu:

Bài học giới thiệu quan điểm và cái nhìn khác nhau trước và sau khi xuất gia: đối với gia đình và sự luyến ái với con cái, vợ chồng cha mẹ.

B/ Tóm Tắt:

Giải nghĩa 4 từ Am Tranh, Tổ Ấm, Dây Giăng và Hệ Phược

Am Tranh = Túp Lều = Trước khi vào đời, “chúng sinh” mà con người gặp đầu tiên chính là Bà Mẹ, vì là nơi đầu tiên đầu thai vào.

Tổ Ấm = Tổ Chim = Ví như một người đàn ông sau khi đi làm kiếm ăn, thì luôn trở lại Tổ Ấm -> ở đây Đức Phật ám chỉ là người Vợ

Từ đó tạo ra các Dây Giăng và Hệ Phược ó Con cái là phiên bản, phản ảnh của chính bản thân – dây nhợ luyện ái , hệ lụy phiền não dính nối

Ví Dụ: Quan Điểm và cách nhìn của Vị A La Hán trước và sau khi đắc quả A La Hán.

Đức Phật xác nhận và phân tích quan điểm của ngài về sợi dây luyến ái, gia đình trước và sau khi xuất gia của một người.

C/ Từ Pali Quan trọng:

Kuṭikāsuttaṃ = Am Tranh – Tổ Ấm

D/ Kết Luận:

Chúng ta nên nhận thức các ác pháp nếu chưa ly dị được thì hãy ly thân, các thiện pháp nếu chưa kết hôn được thì nên đính hôn. Người cư sỹ nên có tâm trạng “xuất gia tâm lý” khi còn sống, đó là đã đi một bước dài trong Phật Pháp.

“Áo Sư bạc nhàu, cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau.” óXuất gia hay tại gia dù giây phút nào cũng nên có khả năng “Xuất gia tâm lý.”

Người viết note: Alain Bảo Thứ Bảy 18 tháng 4 năm 2015

 

Bài 10 unnamed

Giới Thiệu:

Bài học phân tích đối đáp giữa 1 cô tiên nữ đối với tôn giả Samiddhi và duyên lành của cô tiên nữ được Tỳ Kheo Samiddhi giới thiệu đảnh lể và được Đức Phật giảng dạy trả lời các câu hỏi của cô tiên nữ => kết quả cô chứng được Tu Đà Hoàn

B/ Tóm Tắt:

Tôn giả Samiddhi rất là đẹp người hảo tướng , gặp một tiên nữ chất vấn :” tại sao không chịu hưởng (đời sống bình thường của 1 cư sỹ)  5 dục của 1 cư sỹ mà lại sống 1 đời khất thực (Xuất Gia)

Tôn Giả Samaddhi giải thích sự khác nhau giữa đời sống tu sỹ và cư sỹ : “ Khi nào cô chết thì ta không biết, lúc nào ta qua đời, thì ta cũng không biết.” => Đó là lý do tại sao ta chọn đời sống Xuất Gia.

Nhưng sau khi Tiên Nữ vặn vẹo hỏi tại sao, thì Tỳ Kheo Samiddhi bí lối trả lời: “ Ta học ra sao, thì ta nói như vậy, cô muốn biết rõ ngọn ngành nên đến gặp đảnh lể Đức Thế Tôn mà hỏi ?”

Vì Tiên Nữ mang thân mạng người Nữ, không tiện gặp Đức Thế Tôn, nên Tôn Gỉa Samiddhi đã đưa cô đến đảnh lể Đức Phật.

Vị dụ bên lề quan trọng: Lúc mình còn khoẻ mạnh, thì chưa thấy tình đời thay trắng đổi đen từ bạn bè và ngay cả gia đình – sẽ thấy rõ điều đó khi thân bại danh liệt, bệnh liệt giường liệt chiếu => Vì vậy luôn chuẩn bị tâm lý cho tình huống xấu nhất xảy ra trong cuộc đời.

Ngoài ra còn có ví dụ của sự giao thoa văn hoá, gặp nhau, hay giống nhau  giữa những tư tưởng lớn của các bậc thông thái, hiền triết trên đời.

Trên đời này chỉ có 2 cách chấm dứt sự Hoài Nghi:

  • Đi tìm câu trả lời
  • Hoặc không nghĩ đến, để nó sang một bên

Điểm khó ở đây, là cần phải biết sự hoài nghi nào nên đi tìm câu trả lời, sự hoài nghi nào không nên đi tìm vì không có lợi hoặc chỉ mất thời gian.

Tất cả những trả lời của Đức Phật cho Tiên nữ đều dùng cách gián tiếp, vì Ngài thấy rõ căn cơ, đức tánh của cô.

Thế giới chúng ta đang sống là thế giới của ngôn ngữ và biểu tượng => chế định = Akkheyya

Ví du: 1 người phụ nữ đôi mươi lúc chưa lấy chồng thì gọi là thiếu nữ, lấy chồng hoặc đứng tuổi trung niên = Thiếu phụ, chồng chết, ở giá nuối con = Goá phụ, quả phụ, mang thai = Thai Phụ vân vân…… Bác Sỹ Kỹ Sư Dược Sỹ nha Sỹ, Liệt Sỹ đều là ngôn ngử và biểu tượng chế định.

Loài người chìm sâu trong đau khổ tột cùng chính vì chìm đắng trong thế giới tham ái, dục vọng, mà không biết rằng tất cả những sự ham muốn này đều do chính bản thân mình tạo ra.

Sống theo hiện tại có 2 cách:

  • Hưởng Thụ Nó, đây là cách sống đi xuống
  • Quan sát Nó, Đây là cách sống đi lên

Cần phải tìm cách lià bỏ thế giới giả lọc của phàm phu, hãy nhìn cuộc đời 1 cách như thật, nó làm sao thì mình thấy nó như vậy => đừng áp đặt nó vào 1 nhãn hiệu hoặc so sánh.

Ví dụ lý thú: “Thiên Đường nào cũng chỉ là “Thương Điền.”

Thương Điền ở đây có nghĩa là : cõi Vô Thường – Cõi Bể Dâu

“Sông xưa rày đã nên đồng

chổ thành nhà cửa, chổ thành ngô khoai

Đêm nghe tiếng ếch bên tai

giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò” Trần Tế Xương

Chính vì chúng ta chìm sâu trong bể tham ái => đưa chúng ta đến sự trói buộc => vì vậy chúng ta không tưởng tri ( nó ra sao thì nhìn như vậy) = See as they are !

Con người sống trong thế giới của kinh nghiệm => chìm sâu trong thế giới biểu tượng, ảo tượng, ảo tưởng => từ đó mới có các từ : Giải Thiên, Giải Ảo, Giải Mã.

C ó 8 cách nhìn của chúng sinh về thế giới chung quanh (ngũ uẩn):

  • Lăng kính tham ái
  • L ăng kính Sân Hận

Ví  dụ: Gai nhi ều mà Hoa đẹp (Ái), Đẹp vậy mà gai nhiều (Sân)

  • Lăng kính phóng dật
  • Lăng kính hoài nghi
  • L ăng kính tà kiến (thư ờng kiến – đoạn kiến)
  • L ăng kính ngã mạn
  • L ăng kính của si
  • Lăng kính của sự dốt nát về  4 đế

Ngoài ra còn có những cái nhìn pha trộn (Mix Tendecy), v ì vậy chúng ta cần thay thế 8 cách nhìn sai lệch, này bằng 3 cách nhin đúng đắn trí tuệ:

  • Quán Trí – biết rõ đây là 5 uẩn và 4 khía cạnh thực tính của 5 uẩn:
  1. bản tướng (Characteristics)
  2. Chức năng (Functions)
  3. đặc điểm nổi bật
  4. Nhân tố cần thiết
  • Biết rõ và thấy được 42 khía cạnh tam tướng của 5 uẩn.
  • Thánh trí (chỉ xảy ra khi chúng ta đã thông suốt 2 cách nhìn trên)

Tu tập là tập buông bỏ mọi vướng mắc từng bước chứ không phải để mong muốn đắc quả.

Sau khi chứng quả Tu Đa Hoàn, Tiên Nữ biết được:

Con đường tu tập đúng đắn -> Bát Chánh Đạo -> không  gây ác pháp bằng thân, khẩu ( chánh nghiệp, chánh ngữ, chánh mạng) -> Giới Học

chánh cần, chánh định , Chánh niệm => trí tuệ trong 4 niệm xứ => Định Học

Luôn tĩnh giác -> Chánh kiến <+> Chánh Tư Duy – >Tuệ Học

trên đời có 3 loại người:

  • người dễ ước lượng
  • người khó ước lượng
  • Người không thể ước lượng (A L A HÁN)

C/ Từ Pali Quan Trọng:

chế định = Akkheyya

D/  Kết Luận:

Đời là bể khổ, qua được bể khổ là qua đời. Hãy tu tập bằng cách buông bỏ dần dần. Nhìn mọi vật đúng như thật – See as They Are !!!!

Người viết note: Alain Bảo Thứ Bảy 18 tháng 4 năm 2015

 

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s